Theo quy định của Luật ĐDSH năm 2008, liên quan đến hoạt động điều tra cơ bản, quan trắc đa dạng sinh học, Điều 71 đã nêu rõ “Nhà nước đầu tư cho việc điều tra cơ bản hệ sinh thái tự nhiên, loài hoang dã, giống cấy trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm, nguồn gen có giá trị phục vụ công tác bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học” và Chính sách của Nhà nước phải bảo đảm kinh phí cho hoạt động điều tra cơ bản, quan trắc, thống kê đa dạng sinh học. Đến cuối năm 2025, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường cũng đã sửa đổi bổ sung một số nội dung của Luật Đa dạng sinh học, trong đó bổ sung rõ mục chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho các hoạt động điều tra cơ bản, kiểm kê, quan trắc, thống kê, quản lý thông tin, dữ liệu về đa dạng sinh học; xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học (khoản 15, Điều 4).
Từ năm 2021, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2067/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng CSDL đa dạng sinh học quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Trong đó nêu rõ, mục tiêu cho giai đoạn 2022-2025 là “100% các khu BTTN có danh hiệu quốc tế thực hiện chương trình kiểm kê, quan trắc ĐDSH theo bộ chỉ tiêu kiểm kê, chỉ thị quan trắc”; mục tiêu giai đoạn 2025-2030 là “100% các Khu bảo tồn, cơ sở bảo tồn thực hiện chương trình kiểm kê, quan trắc ĐDSH theo bộ chỉ tiêu kiểm kê, chỉ thị quan trắc đã ban hành tại QĐ 2067”. Đề án cũng giao trách nhiệm cho Bộ NN&MT phối hợp với UBND cấp tỉnh, BQL các Khu bảo tồn thiên nhiên và các đơn vị có liên quan xây dựng và tổ chức triển khai các chương trình kiểm kê quan trắc ĐDSH.
Trong thời gian qua, hoạt động kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học đã được các bộ, ngành, địa phương và tổ chức triển khai thông qua nhiều chương trình, đề án, dự án và nhiệm vụ chuyên môn. Một số chương trình, nhiệm vụ đã triển khai như: Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên, môi trường biển; Chương trình tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc; các nhiệm vụ điều tra đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên; các chương trình quan trắc hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái biển, giám sát loài nguy cấp, quý, hiếm và các chương trình nghiên cứu chuyên đề khác.
Kết quả triển khai các hoạt động nêu trên đã góp phần hình thành cơ sở dữ liệu bước đầu về hiện trạng hệ sinh thái, thành phần loài và nguồn gen tại một số khu bảo tồn thiên nhiên; hỗ trợ công tác quản lý, bảo tồn thiên nhiên và thực hiện các nghĩa vụ báo cáo quốc tế của Việt Nam.
Tuy nhiên, hoạt động điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học hiện nay vẫn còn một số tồn tại, hạn chế: Chưa được triển khai thống nhất, đồng bộ trên phạm vi toàn quốc; Nội dung, phương pháp, quy trình kỹ thuật và tần suất thực hiện còn khác nhau giữa các khu bảo tồn thiên nhiên; Dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn hóa, chưa được cập nhật thường xuyên và chưa bảo đảm khả năng tích hợp, chia sẻ; Nhiều khu bảo tồn thiên nhiên chưa được điều tra, kiểm kê, quan trắc đầy đủ, đặc biệt đối với các hệ sinh thái đặc thù, loài nguy cấp, quý, hiếm và nguồn gen có giá trị bảo tồn cao.
Trong khi đó, hiện nay yêu cầu về chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng sinh học, tăng cường giám sát diễn biến đa dạng sinh học và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng và triển khai Chương trình tổng thể điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học theo hướng đồng bộ, thống nhất, lâu dài và phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Năm 2026, theo Chương trình công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học đã được giao xây dựng và trình Bộ phê duyệt “Chương trình tổng thể điều tra, kiểm kê, quan trắc ĐDSH tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có danh hiệu quốc tế”.
Việc ưu tiên triển khai Chương trình tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có danh hiệu quốc tế là phù hợp với yêu cầu quản lý, tình hình thực tế và lộ trình thực hiện Quyết định số 2067/QĐ-TTg, do đây là các khu vực có giá trị nổi bật toàn cầu về đa dạng sinh học, cảnh quan và dịch vụ hệ sinh thái; tập trung nhiều hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, loài nguy cấp, quý, hiếm và nguồn gen đặc hữu cần được theo dõi, giám sát thường xuyên.
Đồng thời, việc triển khai Chương trình tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có danh hiệu quốc tế sẽ tạo cơ sở hoàn thiện quy trình, phương pháp, cơ chế quản lý và hệ thống dữ liệu để từng bước mở rộng triển khai đối với toàn bộ hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên trên phạm vi cả nước trong giai đoạn tiếp theo.
Nhằm hoàn thiện dự thảo Chương trình tổng thể điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có danh hiệu quốc tế, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học đã tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Chương trình tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 29 tháng 5 năm 2026. Tham dự hội thảo có đại diện các Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ban quản lý các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia và các đơn vị liên quan trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, bà Phan Việt Nga, Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng và triển khai Chương trình tổng thể kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học theo hướng thống nhất, đồng bộ và lâu dài nhằm đáp ứng yêu cầu theo dõi diễn biến đa dạng sinh học, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam. Đồng thời, việc ưu tiên triển khai tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có danh hiệu quốc tế sẽ tạo cơ sở để hoàn thiện quy trình, phương pháp, cơ chế quản lý và hệ thống dữ liệu, từ đó từng bước mở rộng triển khai đối với toàn bộ hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên trên phạm vi cả nước trong giai đoạn tiếp theo.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã được nghe trình bày các nội dung chính gồm: Khung pháp lý cho hoạt động xây dựng triển khai hoạt động điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học; giới thiệu dự thảo Chương trình tổng thể điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có danh hiệu quốc tế; chia sẻ kinh nghiệm về chương trình quan trắc, giám sát đa dạng sinh học của VQG Bidoup – Núi Bà.
Trong phần thảo luận, các đại biểu đã tích cực trao đổi và đóng góp nhiều ý kiến thiết thực nhằm hoàn thiện dự thảo Chương trình. Các đại biểu tập trung góp ý về phạm vi, đối tượng và lộ trình triển khai Chương trình cũng như cần làm rõ khái niệm, nội dung và mối quan hệ giữa hoạt động điều tra, kiểm kê và quan trắc đa dạng sinh học để thuận lợi cho quá trình tổ chức thực hiện. Một số ý kiến cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu, định hướng mở rộng phạm vi thực hiện đối với toàn bộ hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên trong thời gian tới, đồng thời làm rõ cơ sở lựa chọn các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có danh hiệu quốc tế để triển khai trong giai đoạn đầu.
Đối với nội dung kỹ thuật, các đại biểu đề xuất xây dựng bộ hướng dẫn kỹ thuật thống nhất về điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học; bổ sung tiêu chí lựa chọn loài quan trắc như loài nguy cấp, quý, hiếm, loài đặc hữu, loài chỉ thị sinh thái và các loài nhạy cảm với biến động môi trường và nghiên cứu bổ sung các yếu tố tác động đến đa dạng sinh học, các nhóm sinh vật còn ít được quan tâm như côn trùng, nấm và nguồn gen. Một số đại biểu cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học, trong đó đề xuất nghiên cứu bổ sung các phương pháp hiện đại như phân tích ADN môi trường (eDNA), công nghệ giải mã gen, công nghệ bẫy ảnh và các giải pháp công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả thu thập, quản lý và khai thác dữ liệu.
Liên quan đến công tác quản lý dữ liệu, các đại biểu đề nghị xây dựng bộ khung cơ sở dữ liệu thống nhất; chuẩn hóa danh mục loài theo các hệ thống phân loại được công nhận quốc tế; quy định rõ trách nhiệm cung cấp, cập nhật, kiểm chứng và chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý nhà nước, địa phương và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên. Đồng thời, cần tăng cường tính kế thừa từ các chương trình, dự án và nhiệm vụ điều tra, kiểm kê đã được triển khai trước đây nhằm tránh trùng lặp và phát huy hiệu quả nguồn dữ liệu hiện có.
Bên cạnh đó, các đại biểu cũng chia sẻ những khó khăn trong quá trình triển khai như hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực chuyên môn, sự khác biệt về điều kiện sinh thái giữa các khu vực, cũng như nhu cầu sớm ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật cho các hoạt động điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học. Một số ý kiến đề nghị cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, địa phương và Ban quản lý khu bảo tồn trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình.
Đại diện đơn vị chủ trì đã tiếp thu và trao đổi, giải đáp các ý kiến góp ý của đại biểu. Theo đó, dự thảo Chương trình sẽ tiếp tục được rà soát, bổ sung và hoàn thiện theo hướng làm rõ các nội dung điều tra, kiểm kê, quan trắc và nghiên cứu bổ sung các phương pháp điều tra hiện đại phù hợp với từng nhóm đối tượng, chuẩn hóa dữ liệu theo các hệ thống phân loại quốc tế, đồng thời tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý trung ương, địa phương và các Ban quản lý vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên trong quá trình triển khai.
Kết thúc Hội thảo, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học ghi nhận, đánh giá cao các ý kiến đóng góp của các đại biểu. Các ý kiến tại Hội thảo sẽ là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Chương trình tổng thể điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có danh hiệu quốc tế, bảo đảm tính khả thi, thống nhất và phù hợp với thực tiễn quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học trong thời gian tới.
Một số hình ảnh tại Hội thảo

Bà Phan Việt Nga, Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học phát biểu khai mạc Hội thảo

Đại biểu tham dự trao đổi, thảo luận và đóng góp ý kiến tại Hội thảo


Toàn cảnh Hội thảo tại Thành phố Hồ Chí Minh
CEBID