CỤC BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC
TRUNG TÂM ĐIỀU TRA, QUAN TRẮC ĐA DẠNG SINH HỌC
CEBID

Thúc đẩy bảo tồn đa dạng sinh học gắn với gia tăng lợi ích kinh tế

0

Các mô hình sản xuất xanh đang mang lại lợi ích kép – vừa bảo vệ đa dạng sinh học, vừa nâng cao giá trị kinh tế cho người dân và doanh nghiệp Việt.

Việt Nam được ghi nhận là một trong những quốc gia giàu đa dạng sinh học trên thế giới với hơn 62.000 loài sinh vật đã được ghi nhận, cùng hệ sinh thái rừng, biển và đất ngập nước phong phú. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu, sự suy giảm về sinh cảnh và chất lượng môi trường cũng như việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên đang tạo ra những sức ép lên đa dạng sinh học và sinh kế của cộng đồng dân cư, đặc biệt là tại vùng nông thôn, ven biển. Trong bối cảnh đó, phát triển các mô hình sản xuất thân thiện với thiên nhiên, môi trường không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Thời gian qua, một số mô hình và phương thức sản xuất bền vững, hài hòa giữa mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế đã được Dự án BIODEV2030 (WWF-Việt Nam) hỗ trợ thử nghiệm, mở ra một hướng tiếp cận mới cho người dân và doanh nghiệp. Đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế trong toàn bộ chuỗi sản xuất mang lại “lợi ích kép” khi vừa bảo tồn đa dạng sinh học, vừa gia tăng lợi ích kinh tế.

Gia tăng giá trị từ mô hình dựa trên hệ sinh thái

Một trong những mô hình thành công được ghi nhận trong Dự án là mô hình nuôi tôm – rừng tại tỉnh Cà Mau, nơi người nuôi tôm đã áp dụng tiêu chuẩn quốc tế ASC trong chuỗi sản xuất. Một trong những yêu cầu bắt buộc của ASC là duy trì tỷ lệ độ che phủ rừng ngập mặn đã giúp cân bằng giữa diện tích rừng và diện tích mặt nước nuôi, qua đó góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên, nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái, đồng thời phát triển nuôi tôm bền vững.

Theo đánh giá của Dự án, sản phẩm tôm sinh thái được giá cao hơn, có thể lên tới 15% so với mô hình khác và dễ dàng tiếp cận các thị trường yêu cầu cao như EU, Mỹ, Nhật Bản. Mô hình tôm – rừng tại Cà Mau không chỉ góp phần tạo ra sinh kế ổn định, bền vững cho hàng nghìn hộ dân thông qua lợi ích về giá trị kinh tế mà còn giúp bảo vệ diện tích rừng ngập mặn và đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Quản lý rừng theo tiêu chuẩn chứng chỉ FSC giúp bảo vệ nguồn nước và giảm rủi ro cháy rừng. Ảnh: CLNKL.

Quản lý rừng theo tiêu chuẩn chứng chỉ FSC giúp bảo vệ nguồn nước và giảm rủi ro cháy rừng. Ảnh: CLNKL.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã đang được hỗ trợ áp dụng chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC và VFCS/PEFC. Đến hết năm 2025, cả nước đã có hơn 484 nghìn ha rừng đạt chứng chỉ FSC và hơn 259 nghìn ha được cấp chứng chỉ VFCS/PEFC.

Rừng trồng có chứng chỉ giúp doanh nghiệp tăng giá bán gỗ thêm 10-15%, đồng thời mở rộng cơ hội xuất khẩu nhờ đáp ứng các tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường. Đối với người dân, quản lý rừng bền vững cũng mang lại nhiều lợi ích. Một đại diện Hợp tác xã Hiệp Thuận (Đà Nẵng) chia sẻ: “Quản lý rừng theo tiêu chuẩn chứng chỉ FSC giúp chúng tôi bảo vệ nguồn nước và giảm rủi ro cháy rừng”.

Nhìn chung, các mô hình được thử nghiệm đều cho thấy, bên cạnh giá trị kinh tế gia tăng, việc sản xuất theo hướng sinh thái cũng góp phần bảo vệ tốt hơn môi trường và các hệ sinh thái tự nhiên.

Bà Nguyễn Bích Hằng, Quản lý Dự án BIODEV2030 (WWF-Việt Nam) chia sẻ, các hệ thống chứng nhận tự nguyện như FSC trong lâm nghiệp và ASC trong nuôi trồng thủy sản là công cụ quan trọng và thiết thực giúp hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế.

“Chứng nhận không chỉ là một nhãn hiệu xuất khẩu, mà là công cụ quản trị giúp tích hợp bảo tồn vào sản xuất. Nếu gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện chính sách và tài chính xanh, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành quốc gia tiên phong trong khu vực về phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học” – bà Hằng nói.

Phát triển bền vững cùng thiên nhiên

Báo cáo lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học vào ngành lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản tại Việt Nam của Dự án BIODEV2030 cho thấy doanh nghiệp tham gia mô hình sản xuất dựa trên hệ sinh thái bền vững vừa giảm rủi ro thị trường, vừa nâng cao thương hiệu.

Thứ nhất, giảm rủi ro về nghĩa vụ tuân thủ. Trong bối cảnh các quy định quốc tế về truy xuất nguồn gốc mà minh bạch chuỗi cung ứng sản phẩm đang thay đổi cục diện thương mại toàn cầu thì các chứng chỉ như FSC, PEFC trong lâm nghiệp và ASC trong thủy sản trở thành công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp chứng minh nguồn nguyên liệu hợp pháp và minh bạch, nâng cao khả năng cạnh tranh tại các thị trường quốc tế.

Thứ hai, nâng cao uy tín và hình ảnh doanh nghiệp. Thực tiễn cho thấy rằng người tiêu dùng toàn cầu ngày càng ưu tiên sản phẩm thân thiện với môi trường. Sản phẩm có chứng chỉ bền vững có lợi thế rõ rệt để thâm nhập và gia tăng thương hiệu tại các thị trường có yêu cầu cao.

Thứ ba, người dân và doanh nghiệp có lợi thế trong tiếp cận thêm các nguồn tài chính xanh. Kết quả từ dự án BIODEV2030 cho thấy doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES), các chương trình hỗ trợ chuyển đổi xanh và đặc biệt là mô hình chứng chỉ nhóm, giúp nông hộ nhỏ giảm chi phí đánh giá chứng nhận so với chứng nhận cá nhân.

Bảo vệ đa dạng sinh học gắn với nâng cao giá trị kinh tế cho người dân là ưu tiên hàng đầu hiện nay. Ảnh: CLNKL.

Bảo vệ đa dạng sinh học gắn với nâng cao giá trị kinh tế cho người dân là ưu tiên hàng đầu hiện nay. Ảnh: CLNKL.

Các công cụ tài chính này không chỉ thúc đẩy sản xuất bền vững mà còn tạo động lực để doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị “xanh” – một xu hướng đang được xem là “chủ đạo” trong thương mại toàn cầu hiện nay.

Tuy nhiên, các chuyên gia từ WWF cũng đưa ra khuyến nghị liên quan đến những hạn chế trong việc mở rộng chứng nhận bền vững. Dù Việt Nam đã ban hành nhiều chiến lược về đa dạng dinh học cũng như phát triển lâm nghiệp, thủy sản, song vẫn cần tăng cường sự đồng bộ trong thực thi chính sách và thúc đẩy các nguồn lực tài chính bền vững.

Để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất bền vững, WWF Việt Nam đề xuất 07 nhóm giải pháp mang tính chiến lược, bao gồm: tăng cường gắn kết chính sách và thực thi; mở rộng và đa dạng hoá cơ chế tài chính xanh, như chi trả dịch vụ hệ sinh thái, tín chỉ carbon và các mô hình tài chính hỗn hợp; tạo động lực cho nông hô nhỏ thông qua hỗ trợ tài chính, kỹ thuật; phát triển năng lực; thúc đẩy mô hình dựa trên hệ sinh thái và thị trường; tăng cường hợp tác đa bên cũng như truyền thông và định vị quốc tế.

Các mô hình do BIODEV2030 hỗ trợ đã chứng minh rằng bảo tồn thiên nhiên không phải là gánh nặng chi phí, mà là khoản đầu tư sinh lợi mang tính bền vững cả về kinh tế và môi trường. Khi đa dạng sinh học được xem như “vốn tự nhiên”, lợi ích về kinh tế, môi trường và xã hội sẽ cùng được nâng cao. Các mô hình chứng chỉ nhóm cho nông hộ nhỏ đang cho thấy hiệu quả vượt trội và là trung tâm của chuyển đổi bền vững.

“Mục tiêu không phải là có thêm chứng chỉ, mà là tạo dựng một hệ giá trị mới, nơi mỗi sản phẩm được chứng nhận đều phản ánh khả năng phục hồi của thiên nhiên và trách nhiệm của nền kinh tế Việt Nam” bà Nguyễn Bích Hằng, Quản lý Dự án BIODEV2030 (WWF-Việt Nam) khẳng định.

Trong bối cảnh toàn cầu đang chuyển dịch sang xu hướng phát triển xanh, những kết quả tích cực từ Dự án có thể là một giải pháp tiềm năng để ngành lâm nghiệp và thủy sản gia tăng giá trị kinh tế trong khi vẫn đảm bảo lợi ích hài hòa với thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Đây cũng là một hành động để doanh nghiệp Việt Nam khẳng định đóng góp thiết thực vào mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học của quốc gia, quốc tế cũng như vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Chi sẻ.

Đã đóng bình luận.