Ngày 5/1, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) tổ chức Chương trình chia sẻ kinh nghiệm ‘Thúc đẩy các sáng kiến bảo tồn đa dạng sinh học ở cấp cơ sở’.
Chương trình diễn ra trong khuôn khổ kỷ niệm 20 năm thành lập PanNature, quy tụ đại diện các tổ chức xã hội, nhóm cộng đồng, chuyên gia và đối tác phát triển nhằm trao đổi thực tiễn triển khai, tăng cường kết nối và nâng cao hiệu quả các sáng kiến bảo tồn dựa vào cộng đồng tại Việt Nam.
Trong bối cảnh suy thoái đa dạng sinh học vẫn tiếp tục diễn ra tại nhiều hệ sinh thái, đặc biệt ở những khu vực người dân phụ thuộc lớn vào tài nguyên thiên nhiên, việc thúc đẩy các sáng kiến bảo tồn từ cấp cơ sở được xem là một hướng đi quan trọng. Các mô hình này không chỉ góp phần bảo vệ hệ sinh thái và các loài nguy cấp, mà còn tạo điều kiện để cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào quá trình bảo tồn, qua đó nâng cao tính bền vững và khả năng duy trì lâu dài của các hoạt động can thiệp.
Trao quyền cho cộng đồng trong bảo tồn
Tại sự kiện, ông Nguyễn Đức Tố Lưu – Quản lý Chương trình của PanNature đã giới thiệu về Chương trình tài trợ bảo tồn cấp cơ sở. Chương trình hướng tới hỗ trợ các sáng kiến xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của địa phương, do các tổ chức cơ sở và cộng đồng trực tiếp đề xuất và triển khai.

Ông Nguyễn Đức Tố Lưu – Quản lý Chương trình của PanNature – giới thiệu về Chương trình tài trợ bảo tồn cấp cơ sở. Ảnh: Minh Hạnh.
Đồng thời, chương trình cũng cung cấp sự đồng hành về kỹ thuật, quản lý dự án và kết nối chuyên gia, nhằm giúp các sáng kiến được triển khai một cách bài bản, hiệu quả và phù hợp với bối cảnh địa phương.
Theo ông Nguyễn Đức Tố Lưu, cộng đồng địa phương giữ vai trò then chốt trong bảo tồn đa dạng sinh học, bởi họ là những người gắn bó trực tiếp với tài nguyên thiên nhiên và chịu tác động rõ nét nhất từ suy thoái môi trường. Khi được trao quyền và tăng cường năng lực, cộng đồng có thể trở thành lực lượng nòng cốt trong bảo vệ hệ sinh thái, đồng thời hài hòa mục tiêu bảo tồn với sinh kế bền vững.
Đa dạng mô hình trên nhiều hệ sinh thái
Trong khuôn khổ chương trình tài trợ, đại diện các địa phương chia sẻ tập trung vào ba nhóm chủ đề trọng tâm gồm: Bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước và biển; bảo tồn rừng tự nhiên; bảo tồn các loài động vật và thực vật nguy cấp, quý hiếm.
Trong lĩnh vực đất ngập nước và biển, nhiều sáng kiến tập trung vào việc giảm thiểu tác động của hoạt động khai thác thủy sản đối với các loài nguy cấp, phục hồi sinh cảnh và tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương. Tiêu biểu là sáng kiến giảm thiểu tác động đối với các loài nguy cấp, quý hiếm cần được bảo vệ (ETP) trong nghề lưới vây khai thác cá ngừ, hay mô hình bảo tồn chim hoang dã và phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước tại bãi bồi sông Hoàng Long (Ninh Bình).

Ông Trịnh Lê Nguyên – Giám đốc PanNature – phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Minh Hạnh.
Bên cạnh đó, dự án nâng cao năng lực bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn và các loài chim hoang dã, chim di cư dựa vào cộng đồng tại Nghệ An cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của người dân địa phương trong giám sát, bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên ven biển.
Ở nhóm bảo tồn rừng tự nhiên, các sáng kiến được triển khai tại nhiều kiểu rừng khác nhau, từ rừng núi đá vôi đến rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Các dự án như bước đầu bảo tồn các loài động vật nguy cấp tại rừng Khe Lim (Đà Nẵng) hay tăng cường quản lý cộng đồng và bảo tồn đa dạng sinh học tại rừng Núi Nả (Lào Cai) cho thấy hiệu quả của việc kết hợp bảo tồn với quản lý rừng cộng đồng và sinh kế bền vững.
Đáng chú ý, mô hình tái hoang dã rùa núi vàng và các loài động vật nhỏ trong trạm sinh thái Net Zero tại Suối Rao Ecolodge mở ra hướng tiếp cận mới, gắn bảo tồn đa dạng sinh học với du lịch sinh thái và mục tiêu giảm phát thải.
Đối với nhóm bảo tồn động vật nguy cấp, quý hiếm, các sáng kiến trải rộng từ nghiên cứu, đánh giá quần thể đến bảo vệ sinh cảnh. Nhiều dự án tập trung vào các loài có giá trị bảo tồn cao như Cầy vằn bắc tại Vườn quốc gia Xuân Liên (Thanh Hóa) hay Voọc gáy trắng tại rừng tự nhiên núi đá vôi do cộng đồng bảo vệ ở Quảng Trị. Các mô hình này nhấn mạnh vai trò của cộng đồng địa phương trong tuần tra, giám sát và bảo vệ sinh cảnh, đồng thời tăng cường phối hợp với chính quyền cơ sở.
Song song với đó, các sáng kiến bảo tồn thực vật nguy cấp, quý hiếm tập trung vào gìn giữ nguồn gen gắn với sinh kế. Tiêu biểu là dự án bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Tam thất hoang dưới tán rừng tự nhiên tại Điện Biên, hay các mô hình nâng cao năng lực cộng đồng người Mông trong bảo tồn cây rừng nguy cấp tại Tuyên Quang và bảo tồn quần thể Lim xanh tại Hà Tĩnh. Những sáng kiến này cho thấy bảo tồn thực vật không chỉ là bảo vệ loài, mà còn là bảo vệ tri thức bản địa và nền tảng sinh kế lâu dài của cộng đồng.

Chương trình quy tụ đại diện các tổ chức xã hội, nhóm cộng đồng, chuyên gia và đối tác phát triển nhằm trao đổi thực tiễn triển khai, tăng cường kết nối và nâng cao hiệu quả các sáng kiến bảo tồn dựa vào cộng đồng tại Việt Nam. Ảnh: Minh Hạnh.
Kết nối, học hỏi và nhân rộng kinh nghiệm
Bên cạnh phần trình bày của các dự án, chương trình dành thời gian cho thảo luận và trao đổi giữa các tổ chức thực hiện và chuyên gia. Các ý kiến tập trung phân tích tính khả thi, khả năng duy trì và nhân rộng của các mô hình bảo tồn, đồng thời chỉ ra những khó khăn phổ biến trong triển khai ở cấp cơ sở, như hạn chế về năng lực quản lý dự án, tài chính và báo cáo.
Trong đó, chia sẻ kinh nghiệm từ Chương trình Tài trợ nhỏ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF SGP) do UNDP quản lý, bà Nguyễn Thị Thu Huyền – Điều phối viên quốc gia GEF SGP tại UNDP Việt Nam cho rằng, các dự án quy mô nhỏ hoàn toàn có thể tạo ra tác động lớn nếu được thiết kế phù hợp, có sự đồng hành lâu dài và được đặt trong một mạng lưới kết nối rộng hơn.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Huyền, để các sáng kiến cộng đồng vận hành hiệu quả, cần chú trọng xây dựng năng lực cho cả cộng đồng và cán bộ địa phương; tăng cường phối hợp giữa các chương trình trên cùng địa bàn; chủ động lồng ghép với các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội địa phương; đồng thời lựa chọn “điểm kích hoạt” phù hợp để khởi động và duy trì các sáng kiến bảo tồn cấp cơ sở.
Trong bối cảnh nguồn lực cho bảo tồn còn hạn chế, các sáng kiến quy mô nhỏ nhưng bám sát thực tiễn địa phương được xem là hướng đi cần thiết. Khi được kết nối và hỗ trợ phù hợp, những mô hình này có thể tạo ra tác động tích cực, đóng góp thiết thực vào mục tiêu bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển bền vững tại Việt Nam.
“Chúng ta không nhỏ khi chúng ta đi cùng nhau. Vai trò và sứ mệnh của các tổ chức xã hội thông qua những chương trình tài trợ nhỏ sẽ ngày càng được khẳng định, góp phần huy động sự tham gia rộng rãi của cộng đồng vào các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo tồn”, bà Nguyễn Thị Thu Huyền nhấn mạnh.