Voọc chà vá chân xám ở Tam Mỹ đang có nguy cơ suy giảm nguồn gen đặt ra yêu cầu cầu cấp thiết phải mở rộng không gian sống, bảo tồn quần thể bền vững.
Ngày 27/3, Trung tâm Bảo tồn Đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) phối hợp UBND xã Tam Mỹ và Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đà Nẵng tổ chức hội thảo “Giải pháp tăng cường bảo vệ loài voọc chà vá chân xám tại xã Tam Mỹ”.
Hội thảo có sự tham dự của hơn 50 đại biểu là các nhà quản lý, nhà khoa học và đại diện địa phương nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài linh trưởng quý hiếm trong bối cảnh nhiều thách thức.
Áp lực suy giảm nguồn gen
Voọc chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) là loài đặc hữu của Việt Nam, thuộc nhóm IB – nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, đồng thời nằm trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới. Hiện số lượng ngoài tự nhiên ước chỉ còn khoảng 1.000-2.000 cá thể, đang suy giảm do mất sinh cảnh và tác động của con người.
Tuy nhiên, thực tế công tác bảo tồn tại nhiều địa phương vẫn còn nhiều hạn chế. Việc bảo vệ rừng hiện chủ yếu dựa vào ý thức tự giác của cộng đồng; nguy cơ săn bắt, đặt bẫy vẫn còn; trong khi các mô hình sinh kế gắn với bảo tồn chưa được tổ chức bài bản.

Các nhà quản lý, chuyên gia bàn giải pháp tăng cường bảo vệ loài voọc chà vá chân xám tại xã Tam Mỹ. Ảnh: Lan Anh.
Từ thực tiễn triển khai, ông Trần Hữu Vỹ, Giám đốc Trung tâm GreenViet cho biết, cách đây khoảng 8 năm, quần thể voọc tại xã Tam Mỹ (Đà Nẵng) đứng trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng do rừng bị thu hẹp, sinh cảnh bị chia cắt. Tuy nhiên, với sự vào cuộc của chính quyền và cộng đồng, khu vực đã được đưa vào quy hoạch bảo tồn, các nhóm tiên phong tại địa phương được hình thành và hoạt động ngày càng hiệu quả.
Các nhóm này tham gia tuần tra, giám sát rừng, đặt bẫy ảnh, ngăn chặn hành vi xâm hại; đồng thời tích cực tuyên truyền, vận động người dân bảo vệ rừng, giữ lại cây keo gần rừng tự nhiên nhằm duy trì sinh cảnh. Nhờ đó, quần thể voọc đã có dấu hiệu phục hồi, từ 69 cá thể năm 2022 lên 75 cá thể năm 2024, trong đó đã ghi nhận cá thể non – tín hiệu tích cực cho thấy loài đang sinh sản trở lại. Nhưng điều đáng lo ngại hiện nay là nguy cơ giao phối cận huyết dẫn đến suy giảm nguồn gen do sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp.

Ông Trần Hữu Vỹ, Giám đốc Trung tâm GreenViet cho rằng, nguy cơ hiện nay là sự suy giảm nguồn gen do giao phối cận huyết của loài. Ảnh: L.A.
Trong giai đoạn tới, các giải pháp tiếp tục được xác định gồm: hỗ trợ nhóm cộng đồng tuần tra bảo vệ rừng; quản lý hiệu quả 60ha rừng đặc dụng theo quy hoạch; đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức; đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển du lịch sinh thái bền vững gắn với bảo tồn.
Cấp thiết mở rộng rừng, giữ quần thể voọc
Ông Đồng Anh Đài, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, nhấn mạnh vai trò của Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2021-2030 trong việc duy trì hệ sinh thái ổn định cho động vật hoang dã. Theo quy hoạch, đến năm 2030, cả nước sẽ có 225 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích hơn 2,64 triệu ha, đồng nghĩa cần thành lập thêm 58 khu mới. Riêng Đà Nẵng dự kiến nâng số khu rừng đặc dụng từ 9 lên 16.
“Đối với khu vực Tam Mỹ, quy hoạch định hướng khoảng 60ha rừng đặc dụng nhằm bảo vệ sinh cảnh loài chà vá chân xám. Đây được xem là nền tảng quan trọng để hình thành khu bảo vệ loài và sinh cảnh, phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái trong tương lai”, ông Đồng Anh Đài chia sẻ.

GS.TS.KH Đặng Huy Huỳnh đánh giá mô hình rừng cộng đồng tại Tam Mỹ là một điển hình hiệu quả của bảo tồn dựa vào cộng đồng. Ảnh: L.A.
Từ góc độ địa phương, lãnh đạo UBND xã Tam Mỹ cho rằng chà vá chân xám có thể trở thành “tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc”, góp phần tạo sinh kế bền vững, đồng thời quảng bá hình ảnh và bản sắc văn hóa địa phương. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, công tác bảo tồn cần được tiếp cận theo hướng tích hợp, trong đó cộng đồng giữ vai trò trung tâm.
Theo đó, địa phương đề xuất đẩy mạnh truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người dân; đồng thời xây dựng các mô hình du lịch sinh thái như tham quan rừng, quan sát voọc trong tự nhiên gắn với trải nghiệm văn hóa bản địa. Song song, cần đầu tư hạ tầng thân thiện môi trường, tăng cường phối hợp giữa chính quyền, tổ chức bảo tồn và cộng đồng, từng bước xây dựng thương hiệu địa phương gắn với hình ảnh chà vá chân xám.

Hiện số lượng ngoài tự nhiên của chà vá chân xám ước chỉ còn khoảng 1.000-2.000 cá thể, đang suy giảm do mất sinh cảnh và tác động của con người. Ảnh: L.A.
Từ góc nhìn khoa học, GS.TS.KH Đặng Huy Huỳnh đánh giá mô hình rừng cộng đồng tại Tam Mỹ là một điển hình hiệu quả của bảo tồn dựa vào cộng đồng. Theo ông, chính môi trường sống an toàn, giàu nguồn thức ăn do người dân tạo dựng đã góp phần thu hút loài quay trở lại sinh sống.
Các ý kiến tại hội thảo thống nhất rằng bảo tồn chà vá chân xám cần được tiếp cận theo hướng tổng thể, kết hợp hài hòa giữa bảo vệ sinh cảnh, phát triển sinh kế và hoàn thiện cơ chế chính sách. Trong đó, du lịch sinh thái được xem là hướng đi tiềm năng, song cần được quy hoạch và kiểm soát chặt chẽ để không gây tác động tiêu cực đến môi trường sống của loài.
Bên cạnh đó, cần triển khai hiệu quả cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm tạo sinh kế bền vững; mở rộng và kết nối sinh cảnh; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, việc nâng cao năng lực cho cộng đồng địa phương được xác định là yếu tố then chốt, bởi khi người dân có kiến thức, kỹ năng và nguồn thu ổn định từ rừng, họ sẽ trở thành lực lượng bảo vệ rừng hiệu quả và bền vững nhất.
Ông Trần Út, Phó Giám đốc Sở NN-MT TP Đà Nẵng, cho rằng cần nhìn nhận tài nguyên rừng và đa dạng sinh học không chỉ là đối tượng bảo vệ mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Từ năm 2017 đến nay, TP Đà Nẵng ghi nhận sự hỗ trợ tích cực của các tổ chức quốc tế trong công tác bảo tồn, góp phần giúp quần thể chà vá chân xám phát triển ổn định, cấu trúc đàn được duy trì. Dù vậy, loài này vẫn đối mặt nhiều nguy cơ như xâm hại rừng, tác động của biến đổi khí hậu và tình trạng săn bắt động vật hoang dã.
Do đó, để bảo tồn bền vững, cần bảo đảm người dân có thể sống được từ rừng, được hưởng lợi từ rừng và tiếp cận các cơ chế, chính sách liên quan đến bảo vệ rừng. Đồng thời, cần trao quyền cho cộng đồng trong quản lý, khai thác hợp lý các giá trị đặc hữu của rừng.
“Sau hội thảo, ngành nông nghiệp và môi trường TP Đà Nẵng cam kết sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan để mở rộng sinh cảnh rừng theo Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2021-2030, đồng thời từng bước xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp và huy động nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học”, ông Trần Út khẳng định.