CỤC BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC
TRUNG TÂM ĐIỀU TRA, QUAN TRẮC ĐA DẠNG SINH HỌC
CEBID

Xây dựng dữ liệu đa dạng sinh học thống nhất trên toàn quốc

0

Chương trình điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học đến năm 2030 sẽ đồng bộ dữ liệu về hệ sinh thái, hỗ trợ quản lý và bảo tồn hiệu quả.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định 2878/QĐ-BNNMT phê duyệt Chương trình điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2030. Chương trình được triển khai trên phạm vi toàn quốc, nhằm đánh giá đầy đủ hiện trạng, xu hướng biến động của các hệ sinh thái và loài sinh vật; đồng thời tạo nền tảng dữ liệu thống nhất phục vụ công tác quản lý, bảo vệ thiên nhiên.

Chương trình điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học đến năm 2030 sẽ đồng bộ dữ liệu về hệ sinh thái, hỗ trợ quản lý và bảo tồn hiệu quả. Ảnh: NNMT.

Chương trình điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học đến năm 2030 sẽ đồng bộ dữ liệu về hệ sinh thái, hỗ trợ quản lý và bảo tồn hiệu quả. Ảnh: NNMT.

Chương trình cụ thể hóa Đề án “Kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Các nhiệm vụ giai đoạn 2026-2030 được xác định rõ nội dung, tiến độ, đơn vị thực hiện và kết quả dự kiến, qua đó tăng cường phối hợp giữa cơ quan trung ương, địa phương và ban quản lý các khu bảo tồn.

Theo dõi đồng bộ hệ sinh thái 

Trọng tâm của Chương trình là tổ chức điều tra, kiểm kê và quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên. Đối với hệ sinh thái tự nhiên, việc theo dõi tập trung vào diện tích và chất lượng của bốn nhóm chính, gồm hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, rạn san hô và thảm cỏ biển.

Đối với động vật, các cơ quan chuyên môn sẽ xác định số lượng cá thể, số lượng quần thể, thành phần loài và tần suất xuất hiện. Hoạt động điều tra đặc biệt chú trọng các loài đặc hữu; loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; loài bị đe dọa có tên trong Sách đỏ Việt Nam.

Với thực vật, chương trình tập trung đánh giá diện tích phân bố, thành phần và xu hướng biến động của các loài, nhất là thực vật đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm. Trên cơ sở kết quả thu thập, các đơn vị sẽ đề xuất giải pháp quản lý, phục hồi và bảo tồn phù hợp với từng khu vực, từng hệ sinh thái.

Việc điều tra không chỉ nhằm bổ sung danh mục loài, mà còn giúp nhận diện sớm những biến động bất lợi, nguy cơ suy giảm quần thể và chất lượng sinh cảnh. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để điều chỉnh phương án quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại các khu bảo tồn.

Xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất

Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn theo hướng đồng bộ, thống nhất và có khả năng tích hợp với cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn theo hướng đồng bộ, thống nhất. Ảnh: NNMT.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn theo hướng đồng bộ, thống nhất. Ảnh: NNMT.

Cơ sở dữ liệu dạng số sẽ tổng hợp các chỉ tiêu về diện tích, chất lượng hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, rạn san hô và thảm cỏ biển; đồng thời cập nhật số lượng, thành phần và phân bố của các loài động vật, thực vật.

Dữ liệu bản đồ được biên tập trên nền hệ tọa độ VN-2000, thể hiện phạm vi các hệ sinh thái, vùng phân bố của các loài và vị trí xuất hiện của những loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam.

Chương trình yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quá trình điều tra, quan trắc, xử lý và quản lý dữ liệu. Cùng với đó, cán bộ tại các khu bảo tồn sẽ được đào tạo về kỹ thuật điều tra, phân loại loài, thu thập thông tin, lập báo cáo và vận hành cơ sở dữ liệu.

Phân công rõ trách nhiệm, bảo đảm tiến độ

Theo kế hoạch, trong năm 2026, các đơn vị chuyên môn sẽ xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật về điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học. Giai đoạn 2027-2028 tiếp tục hoàn thiện các định mức chuyên ngành; từ năm 2027 đến năm 2030 triển khai điều tra tại các khu bảo tồn thiên nhiên. Hoạt động đánh giá loài nguy cấp, quý, hiếm và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia được thực hiện hằng năm; chương trình sẽ được tổng kết vào năm 2030.

Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, tổng hợp kết quả và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia. Các đơn vị chuyên ngành về lâm nghiệp, thủy sản, biển và hải đảo phối hợp xây dựng quy trình kỹ thuật, dữ liệu thuộc phạm vi quản lý.

Ban quản lý các khu bảo tồn trực tiếp tổ chức điều tra, kiểm kê, quan trắc. Ảnh: NNMT.

Ban quản lý các khu bảo tồn trực tiếp tổ chức điều tra, kiểm kê, quan trắc. Ảnh: NNMT.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch tại địa phương, bố trí kinh phí và tích hợp dữ liệu vào hệ thống quốc gia. Ban quản lý các khu bảo tồn trực tiếp tổ chức điều tra, kiểm kê, quan trắc; định kỳ báo cáo và đề xuất giải pháp bảo vệ các hệ sinh thái, loài động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm.

Nguồn lực thực hiện được bảo đảm từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương cùng các nguồn tài trợ, viện trợ và nguồn kinh phí hợp pháp khác. Qua đó, Chương trình hướng tới hình thành hệ thống dữ liệu đầy đủ, cập nhật và thống nhất, tạo nền tảng nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học trên phạm vi cả nước.

Theo https://nongnghiepmoitruong.vn/
Chi sẻ.

Đã đóng bình luận.