CỤC BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC
TRUNG TÂM ĐIỀU TRA, QUAN TRẮC ĐA DẠNG SINH HỌC
CEBID

Lào Cai số hóa dữ liệu đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn

0

Đến năm 2030, Lào Cai đặt mục tiêu hoàn thành điều tra đa dạng sinh học tại toàn bộ khu bảo tồn thiên nhiên, ứng dụng công nghệ hiện đại để theo dõi hệ sinh thái và các loài quý hiếm.

Theo dõi biến động hệ sinh thái, nhận diện các loài quý hiếm

Bảo tồn thiên nhiên không chỉ dừng ở việc bảo vệ diện tích rừng hay ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên. Muốn nhận diện những biến động của hệ sinh thái, cơ quan quản lý cần biết các loài sinh vật đang phân bố ở đâu, số lượng thay đổi ra sao và những khu vực nào có dấu hiệu suy thoái.

Đó là một trong những trọng tâm của Kế hoạch số 505/KH-UBND ngày 26/10/2026 vừa được UBND tỉnh Lào Cai ban hành, triển khai Chương trình điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2030 theo Quyết định số 2878/QĐ-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Kế hoạch hướng tới xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học, thống nhất về tài nguyên đa dạng sinh học, làm cơ sở cho hoạt động bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và quản lý các loài nguy cấp, quý, hiếm. Đây cũng là bước chuẩn bị để đưa công nghệ số vào công tác quản lý thiên nhiên tại địa phương.

Theo kế hoạch, đến năm 2030, Lào Cai phấn đấu hoàn thành điều tra, kiểm kê và quan trắc đa dạng sinh học tại tất cả khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh.

Phạm vi thực hiện gồm Vườn quốc gia Hoàng Liên, Vườn quốc gia Bát Xát, Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu và Khu bảo tồn loài, sinh cảnh Mù Cang Chải.

Hoạt động điều tra không chỉ nhằm thống kê thành phần loài mà còn đánh giá tình trạng và xu hướng biến động của các hệ sinh thái tự nhiên.

Vườn Quốc gia Hoàng Liên. Ảnh: Thanh Tiến.

Đối với rừng, các cơ quan chuyên môn sẽ khảo sát diện tích, cấu trúc, sức khỏe và diễn biến của những kiểu hệ sinh thái đặc trưng như rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng hỗn giao lá rộng – lá kim núi cao và hệ sinh thái núi cao Fansipan.

Các hệ sinh thái đất ngập nước nội địa, bao gồm sông, suối, hồ và đầm trong phạm vi khu bảo tồn, cũng được đưa vào chương trình điều tra.

Việc đánh giá đồng thời nhiều kiểu hệ sinh thái cho phép xây dựng bức tranh đầy đủ hơn về điều kiện sống của các loài sinh vật, thay vì chỉ tập trung vào diện tích rừng hoặc một số loài tiêu biểu.

Với động vật hoang dã, hoạt động quan trắc tập trung xác định số lượng cá thể, số lượng quần thể, tần suất xuất hiện và tình trạng phân bố của các loài.

Đặc biệt, những loài đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và các loài bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam là đối tượng cần theo dõi, đánh giá để đề xuất giải pháp bảo tồn phù hợp.

Đối với thực vật, chương trình điều tra thành phần loài, diện tích phân bố và xu hướng biến động, chú trọng những loài đặc hữu hoặc có nguy cơ bị đe dọa.

Những kết quả này có ý nghĩa đối với việc xác định khu vực cần ưu tiên bảo vệ, nhận diện nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học và đánh giá hiệu quả các biện pháp quản lý đang được áp dụng.

Lộ trình thực hiện được phân công theo từng khu bảo tồn. Tại Vườn quốc gia Hoàng Liên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hoạt động điều tra, kiểm kê, quan trắc giai đoạn 2026-2030, với sự phối hợp của UBND tỉnh Lào Cai.

Đối với Vườn quốc gia Bát Xát, Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn và Khu bảo tồn loài, sinh cảnh Mù Cang Chải, các ban quản lý chủ động tổ chức điều tra trên diện tích được giao trong giai đoạn 2027–2030.

UBND tỉnh yêu cầu kết quả điều tra phải chính xác, khách quan, kế thừa tài liệu đã có để tránh trùng lặp và lãng phí nguồn lực.

Đưa công nghệ số vào quản lý tài nguyên đa dạng sinh học

Một điểm nổi bật của kế hoạch là định hướng sử dụng các công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả điều tra, quan trắc ngoài thực địa.

Theo đó, Lào Cai sẽ tăng cường ứng dụng công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS), trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích hình ảnh từ bẫy ảnh tự động và công nghệ phân tích ADN môi trường (eDNA).

Bẫy ảnh tự động hỗ trợ ghi nhận sự xuất hiện của động vật trong môi trường tự nhiên. Việc ứng dụng AI để phân tích hình ảnh được định hướng nhằm hỗ trợ nhận diện loài và xử lý dữ liệu quan trắc.

Trong khi đó, công nghệ ADN môi trường được đưa vào chương trình như một phương pháp hỗ trợ nhận diện loài thông qua dấu vết vật chất di truyền trong môi trường.

Kết hợp các công nghệ này với khảo sát thực địa có thể tạo thêm nguồn thông tin phục vụ đánh giá tình trạng đa dạng sinh học, đặc biệt đối với những loài khó quan sát trực tiếp.

Hoạt động tái thả loạt động vật hoang dã quý hiếm về rừng. Ảnh: Nguyên Hưng.

Trong giai đoạn 2027-2028, tỉnh dự kiến đầu tư các thiết bị phục vụ điều tra gồm máy định vị GPS chuyên dùng, thiết bị bay không người lái, camera bẫy ảnh hồng ngoại và máy đo thông số môi trường.

Song song với trang bị phương tiện, lực lượng kiểm lâm, cán bộ ban quản lý các khu bảo tồn và cán bộ chuyên trách bảo tồn đa dạng sinh học sẽ được tập huấn về phương pháp điều tra, thu thập và xử lý mẫu vật, thiết lập ô tiêu chuẩn cố định, vận hành bẫy ảnh và sử dụng phần mềm chuyên ngành.

Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ chỉ là một phần của chương trình. Mục tiêu quan trọng hơn là hình thành hệ thống dữ liệu thống nhất, có thể cập nhật và sử dụng lâu dài.

Theo kế hoạch, cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tỉnh Lào Cai sẽ tích hợp thông tin về diện tích, chất lượng hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái đất ngập nước, số lượng và thành phần các loài động vật, thực vật.

Dữ liệu bản đồ được xây dựng trên nền hệ tọa độ VN-2000, thể hiện phạm vi các hệ sinh thái, phân bố thành phần loài và vị trí ghi nhận những loài nguy cấp, quý, hiếm hoặc bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam.

Giai đoạn 2028-2030, Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng, cập nhật và vận hành cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học cấp tỉnh, bảo đảm tích hợp, kết nối với cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.

Các kết quả điều tra, quan trắc sẽ được chuẩn hóa và cập nhật định kỳ hằng năm. Đây là yêu cầu quan trọng để dữ liệu phản ánh được những thay đổi của hệ sinh thái qua thời gian, phục vụ công tác quản lý và hoạch định chính sách bảo tồn.

Cùng với hoạt động chuyên môn, Lào Cai định hướng tăng cường hợp tác với các tổ chức bảo tồn quốc tế, viện nghiên cứu và trường đại học nhằm huy động hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật, công nghệ và đào tạo nhân lực.

Tỉnh cũng khuyến khích doanh nghiệp du lịch, hợp tác xã và cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia bảo tồn thiên nhiên gắn với phát triển du lịch sinh thái bền vững, chi trả dịch vụ môi trường rừng và dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon của rừng.

Cách tiếp cận này hướng tới kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên với các hoạt động kinh tế dựa vào giá trị hệ sinh thái, qua đó tạo thêm điều kiện để cộng đồng địa phương tham gia công tác bảo tồn.

Kinh phí triển khai chương trình được bố trí từ ngân sách địa phương, nguồn hỗ trợ của ngân sách trung ương nếu có và các nguồn vốn hợp pháp khác. Kế hoạch chưa xác định tổng mức kinh phí cụ thể.

Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao làm đầu mối hướng dẫn, theo dõi và tổng hợp kết quả thực hiện; phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tập huấn kỹ thuật, kiểm tra tiến độ và tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai.

Các ban quản lý khu bảo tồn có trách nhiệm xây dựng, vận hành dữ liệu đa dạng sinh học thuộc phạm vi quản lý và báo cáo kết quả hằng năm. Chương trình được tổng kết vào năm 2030.

Nguồn: mae.gov.vn

Chi sẻ.

Đã đóng bình luận.