CỤC BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC
TRUNG TÂM ĐIỀU TRA, QUAN TRẮC ĐA DẠNG SINH HỌC
CEBID

Tăng tỷ lệ che phủ rừng gắn với dịch vụ chi trả môi trường rừng

0

Với hơn 405.000ha rừng, Phú Thọ gắn bảo vệ rừng với sinh kế người dân, hướng tới nâng cao khả năng hấp thụ, lưu giữ các-bon và mở rộng nguồn lực tài chính từ rừng.

Theo Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ, toàn tỉnh hiện có 405.394,17ha đất lâm nghiệp, Tỷ lệ che phủ rừng những năm gần đây cơ bản được duy trì ổn định 42,7-43,7%.

Theo Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ, toàn tỉnh hiện có 405.394,17ha đất lâm nghiệp, gồm 199.874,42ha rừng tự nhiên và 205.519,75ha rừng trồng. Ảnh: Tùng Đinh.

Theo Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ, toàn tỉnh hiện có 405.394,17ha đất lâm nghiệp, gồm 199.874,42ha rừng tự nhiên và 205.519,75ha rừng trồng. Ảnh: Tùng Đinh.

Thêm nguồn lực cho người giữ rừng

Tại Phú Thọ, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đang tạo thêm nguồn lực để người dân và cộng đồng tham gia bảo vệ rừng. Năm 2024, số tiền dịch vụ môi trường rừng thu được là 23,060 tỉ đồng; năm 2025 là 28,187 tỉ đồng.  Số liệu thu năm 2024 và 2025 được tính trên địa bàn tỉnh Hòa Bình cũ. Nguồn thu năm 2026 là 17,554 tỉ đồng.

Hiện có 124.887,92ha rừng được hưởng chính sách, với 23.843 hộ gia đình, cá nhân, 108 cộng đồng dân cư, 21 tổ chức và 30 UBND xã. Năm 2026, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã giải ngân 21,913 tỷ đồng, đạt 96,67% số tiền phải chi cho chủ rừng.

Mức chi trả bình quân năm 2025 là 181.503 đồng/ha, tăng 25.346 đồng/ha so với năm trước. Tuy chưa phải nguồn thu lớn, khoản tiền này góp phần cải thiện sinh kế, tạo thêm động lực để người dân gắn bó với rừng.

Mức chi trả bình quân năm 2025 là 181.503 đồng/ha, cao hơn 25.346 đồng/ha so với năm 2024. Theo ngành kiểm lâm, khoản tiền này phần nào góp phần tăng thu nhập cho người làm nghề rừng và tạo thêm động lực bảo vệ rừng. Ảnh: Tùng Đinh.

Mức chi trả bình quân năm 2025 là 181.503 đồng/ha, cao hơn 25.346 đồng/ha so với năm 2024. Theo ngành kiểm lâm, khoản tiền này phần nào góp phần tăng thu nhập cho người làm nghề rừng và tạo thêm động lực bảo vệ rừng. Ảnh: Tùng Đinh.

Tại thôn Tân Minh, xã Cao Sơn, 203 hộ dân tham gia bảo vệ 854,94ha rừng, trong đó 605ha do cộng đồng quản lý. Nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng được sử dụng một phần cho tổ bảo vệ rừng và các hoạt động chung, phần còn lại chia cho các hộ. Qua đó, người dân có thêm nguồn lực phát triển kinh tế hộ, giảm sự phụ thuộc vào việc khai thác trực tiếp tài nguyên rừng.

Cách làm này gắn quyền lợi kinh tế với trách nhiệm bảo vệ tài nguyên. Khi rừng được gìn giữ, nguy cơ mất rừng, suy thoái rừng được hạn chế, góp phần duy trì lượng các-bon đang lưu giữ trong hệ sinh thái và khả năng tiếp tục hấp thụ CO₂.

Tuy nhiên, hiện nay chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng vẫn còn những khó khăn về đo đạc, theo dõi diễn biến rừng, chưa đồng bộ về dữ liệu. Mức chi trả bình quân cho mỗi hộ hiện chỉ khoảng 333.274 đồng/năm. Một số lưu vực có đơn giá thấp như thủy điện Cẩm Thủy 6.476 đồng/ha, Vạn Mai 6.260 đồng/ha và Định Cư 4.711 đồng/ha trong năm 2025. Vì vậy, việc đa dạng hóa nguồn thu từ rừng là yêu cầu đặt ra để tạo động lực bảo vệ lâu dài.

Gắn quyền lợi với trách nhiệm bảo vệ rừng

Thời gian tới, Phú Thọ tiếp tục duy trì ổn định khoảng 405.000ha rừng, quản lý chặt đất lâm nghiệp, không để xảy ra mất rừng và suy giảm chất lượng rừng. Tỉnh tập trung bảo vệ, phục hồi rừng tự nhiên, nâng cao chất lượng rừng trồng, phát triển rừng gỗ lớn, cây bản địa và khả năng hấp thụ các-bon của rừng.

Phú Thọ duy trì hơn 405.000ha rừng, gắn bảo vệ rừng với chi trả dịch vụ môi trường rừng, tạo thêm nguồn lực và sinh kế cho người dân. Ảnh: Tùng Đinh.

Phú Thọ duy trì hơn 405.000ha rừng, gắn bảo vệ rừng với chi trả dịch vụ môi trường rừng, tạo thêm nguồn lực và sinh kế cho người dân. Ảnh: Tùng Đinh.

Cùng với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tỉnh định hướng đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ hệ sinh thái rừng, tín chỉ các-bon, du lịch sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và các cơ chế tài chính xanh.

Để hiện thực hóa tiềm năng này, cần rà soát hiện trạng, đánh giá khả năng hấp thụ, lưu giữ các-bon của từng loại rừng; xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ đo đạc, báo cáo, thẩm định và nghiên cứu phát triển các chương trình, dự án tín chỉ các-bon.

Tuy nhiên, lượng các-bon rừng hấp thụ không tự động trở thành tín chỉ có thể giao dịch. Các dự án phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp luận, đường cơ sở, tính bổ sung, lượng hóa kết quả, xác minh và tránh tính trùng theo cơ chế áp dụng.

Nguồn: Báo NN&MT

Chi sẻ.

Đã đóng bình luận.